Các trường phái Đồ Cổ ở Việt Nam

alguna keyword
“Cổ ngoạn” (nói nôm na là “chơi đồ xưa”) là một thú chơi của những người tìm và sưu tập những món cổ vật còn lưu giữ lại từ thời xa xưa như đồ đồng, đồ ngọc, gốm sứ, bàn ghế, sách xưa, tranh thư pháp, tem thư… Thú sưu tầm này không phân biệt tầng lớp, gia cảnh, tuổi tác và cũng rất đa dạng: Có người đam mê những món đồ đồng cổ, có người thích chơi cổ ngọc, sách xưa (sách tây, quốc ngữ, Hán Nôm), và phổ biến nhất là chơi gốm sứ. Thói quen sưu tập của mỗi người cũng khác nhau, có người chỉ sưu tập một loại cổ vật, có người lại thích một bộ sưu tập cổ vật đa dạng, phong phú, nói chung là muôn màu muôn vẻ. Nhưng nhìn chung ở Việt Nam hiện nay có hai trường phải chơi đồ cổ chính: trường phái “cổ đồ” và trường phái sưu tập. Hãy cùng MUA Gốm Sứ tìm hiểu nhé.

Bài viết khác chủ đề:


Một góc trong bộ sưu tập gốm sứ cổ của ông Đinh Công Tường  – Ảnh: Zing.vn

1. Trường phái “cổ đồ

Nhiều người nghĩ rằng “cổ đồ” có nghĩa là chơi đồ cổ, nhưng thật ra “cổ đồ” chính là dùng đồ cổ để bày theo đúng quy cách mỹ thuật cổ điển. Những người thuộc trường phái “cổ đồ” đa phần đều thấm nhuần tư tưởng triết học cũng như am hiểu quan niệm thẩm mỹ phương Đông cổ. Đa phần những người theo trường phái này là những người giàu có, hoặc chí ít cũng phải có điều kiện về kinh tế.

Trường phái “cổ đồ” ở Việt Nam phần nào chịu ảnh hưởng của văn hóa truyền thống Trung Hoa và phổ biến ở miền Bắc, nó toát lên vẻ tao nhã, triết lý sâu xa. Trong trường phái này, không đòi hỏi phải có thật nhiều hiện vật mà chỉ cần một vài thứ đồ cổ  hội đủ ba điều kiện ”cổ, quý, kỳ”, đồ càng xưa và càng hiếm thì càng quý, nhiều người còn thích sưu tập những món đồ cổ “độc nhất vô nhị”, tức là không có cái thứ hai giống như thế. Bên cạnh đó, mỗi món đồ được chọn phải toàn bích, men màu, kích thước, hình dáng phải hoàn hảo, nhìn ngắm kỹ đều không thể chê điểm nào được.

Nghệ thuật trưng bày đồ cổ để thưởng ngoạn đòi hỏi một không gian thoáng đãng, sáng sủa nhưng phải hài hòa, tinh tế và có vật cảnh tạo nền hợp lý để làm nổi bật những món đồ cổ quý giá. Thông thường, người ta tạo nền bằng các món đồ gỗ cổ được tạo tác khéo léo và tinh xảo. Quan trọng nhất là người chơi “cổ đồ” phải thông hiểu những bài bản, quy tắc trong nghệ thuật trang trí cổ xưa; có những kiến thức cần thiết về đồ cổ nói chung, hay ít ra cũng phải am tường loại đồ cổ mà mình sưu tầm.


Một gian phòng trưng bày đồ cổ của một gia đình ở Hà Nội – Ảnh: Afamily

Người chơi ”cổ đồ” thường chỉ đem những món quý giá trong bộ sưu tập của mình ra bày vào dịp lễ Tết hay những dịp quan trọng để giới thiệu với người thân, bạn bè tri âm tri kỷ hoặc khách quý. Trong buổi thưởng ngoạn, chủ nhân thường cho đốt đỉnh xông trầm hương, tự tay pha ấm trà mời khách rồi chủ khách cùng nhau thưởng thức đồ cổ, săm soi phẩm bình, xướng họa, tận hưởng cái thú tiêu dao đầy thi vị như tao nhân mặc khách xưa.

2. Trường phái sưu tập

Ở Việt Nam, bên cạnh trường phái “cổ đồ” thì trường phái sưu tập cũng là một khuynh hướng phổ biến của giới chơi đồ cổ. Trong trường phái này, người chơi phải sẽ tự chọn và quyết định sưu tập hiện vật theo một đề tài mà mình ưa thích trong số rất nhiều những đề tài phong phú. Ví dụ như đề tài gốm Lý, Trần (theo triều đại lớn), bình vôi, ấm trà hoặc gốm men ngọc, gốm hoa lam (theo loại hình), khắc gỗ, khắc đá, tượng gỗ (chất liệu – loại hình), v.v…

Người chơi đồ cổ theo trường phái sưu tập không đòi hỏi phải có điều kiện kinh tế quá cao, cũng không nhất thiết phải có kiến thức sâu sắc về mỹ thuật cổ xưa, mà điều cần thiết nhất là phải kiên trì và có nhiều thời giờ. Bởi vì muốn sưu tập được những món cổ vật giá trị thì chắc chắn phải mất thời gian tìm kiếm đi nhiều nơi, giao thiệp rộng để tìm kiếm những thứ quý giá, hiếm hoi và nhặt nhạnh ngày qua ngày. Có những hiện vật xưa tưởng chừng không mấy giá trị, rất dễ kiếm, thậm chí có thể xin được như các loại bình vôi, nhưng khi được tập hợp lại thành bộ, chúng lại trở nên vô giá!

Trường phái sưu tập đã có một thời cực thịnh ở miền Nam nước ta, nó chịu ảnh hưởng một phần của châu Âu – Mỹ. Những người sáng lập ra trường phái này là nhà sưu tập Vương Hồng Sến, và bên cạnh đó còn có giáo sư Dương Minh Thới, kỹ sư Tăng Văn Khuê, họa sĩ Nguyễn Văn Rô, nhà văn Ngọc Sơn,… Chính họ đã là những người đã có công gìn giữ cho Sài Gòn nói riêng và cho nước nhà nói chung những bộ sưu tập đồ cổ tuyệt kỹ.

Thú chơi đồ cổ cũng có thể xem như một thú chơi mang tính văn hóa: nó không những giúp mỗi cá nhân thỏa đam mê với những món cổ vật, mà còn mang đến nhiều lợi ích cho xã hội khi không ít bộ sưu tập cá nhân, gia đình đã trở thành nguồn bổ sung cổ vật cho các bảo tàng Nhà nước.

Phòng trưng bày một số cổ vật của Vương Hồng Sểntrong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Tp.HCM – Ảnh Internet


Bạn đang đọc bài viết tại trang: Mua Gốm Sứ

Vua gốm sứ Sài Gòn Đinh Công Tường và kho Gốm Sứ Cổ

alguna keyword

Chiêm ngưỡng kho gốm sứ cổ

Với hơn 20 năm tìm kiếm và lưu giữ hơn 100 ngàn món đồ cổ bằng gốm sứ từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 20, nhà sưu tầm Đinh Công Tường đã được giới sưu tầm đồ cổ đặt biệt danh là “Vua gốm sứ Sài Gòn”. Hãy cùng MUA Gốm Sứ ghé thăm kho gốm cổ khổng lồ và cực kỳ quý giá của ông nhé.

Một góc kho đồ cổ khổng lồ của ông Đinh Công Tường

Nếu có dịp ghé thăm nơi kho lưu giữ những món đồ gốm sứ cổ của ông Tường tại khu phố 5, phường Hiệp Thành, quận 12, TP.HCM, chắc chắn ai cũng sẽ có cảm giác choáng ngợp bởi hàng trăm ngàn các loại bình, chén, dĩa bằng gốm sứ với đầy đủ kích thước, kiểu dáng, hoa văn được ông tìm mua từ Nam chí Bắc. Trong bộ sưu tập đó còn có những món đồ độc đáo có giá lên đến hàng trăm triệu đồng.


Những chiếc bình với đầy đủ kích thước, kiểu dáng, họa tiết

 
Chiếc đĩa Mai Hạc đời Nguyễn

Ông Tường chia sẻ: “Năm 23 tuổi, trong một đợt về Bắc dự đám giỗ ngoại, tôi được bà cô tặng cho mấy cái tô, bát, dĩa… nói là kỷ niệm của ông bà ngoại để lại. Sau đó tôi về ngắm nghía và bắt đầu mê đồ cổ. Đến năm 24 tuổi, tôi tích góp tiền bạc và bắt đầu mua những món đồ cổ, lúc đầu cũng có nghĩ đến chuyện bán lại để kiếm tiền nhưng nghĩ kỹ thì đây là những vật có giá trị, đã bán đi thì không bao giờ mua lại được. Từ đó tôi bắt đầu gom góp, sưu tập, sau 20 năm thì có khối tài sản đồ sộ này.”

 Chiếc bình Bắc – Trung – Nam có giá vài trăm triệu đồng


Nổi bật nhất trong “kho báu gốm sứ” của ông Tường phải kể đến bộ sưu tập ấm chén và các loại lộc bình cổ quý hiếm của Nhật vào thế kỷ 19. Không những thế, ông còn sở hữu những chiếc tô đời Minh, bình vuông đời Thanh, bình Bát huệ tôn, bình Song tâm thế kỷ 18,… và rất nhiều những tác phẩm gốm có nguồn gốc từ Nhật Bản, Trung Hoa, Pháp,… Ngoài ra, bộ sưu tập của ông cũng có đủ bộ gốm sứ cổ 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam qua nhiều thời kỳ như gốm Óc Eo, Đông Sơn, Chăm, Chu Đậu, Bát Tràng hay gốm Biên Hòa thế kỷ 18-19. Trong đó có cặp bình độc nhất vô nhị hình thoi với nước men trắng xanh cực hiếm, chiếc đĩa Mai Hạc của vua triều Nguyễn, cặp ngựa Biên Hòa…
 
Những lục bình này cũng có giá cả trăm triệu đồng một chiếc

Ông Trường cho biết: “Bộ sưu tập này của tôi không chỉ là kho tàng lưu trữ những giá trị văn hóa rất lớn mà còn là cơ sở để thế hệ trẻ sau này biết đến, giữ gìn và phát huy nền văn hóa lâu đời của dân tộc.” Ngoài những cổ vật gốm sứ, ông còn sưu tập những cổ vật khác bằng đồng, bạc, gỗ hiếm, đá quý…


Chiếc bình được làm bằng đồng, bên ngoài phủ lớp men khá bắt mắt

Năm 2011, Trung tâm sách Kỷ lục gia Việt Nam đã chính thức công nhận ông Đinh Công Tường là người sở hữu nhiều đồ cổ gốm sứ nhất Việt Nam, bộ sưu tập của ông lúc đó có khoảng hơn 80 ngàn đồ cổ gốm sứ, đến nay số lượng đã lên đến hơn 100 ngàn món đồ.

 Cặp ngựa của gốm Biên Hòa có từ thế kỷ 18


Bạn đang đọc bài viết tại trang: Mua Gốm Sứ

Cổ ngoạn là gì? Tại sao gọi là Cổ Ngoạn? - Gốm Sứ

alguna keyword
Tìm hiểu về thú chơi “Cổ ngoạn” của người Việt Nam

“Cổ ngoạn” là cách gọi văn vẻ của thú chơi đồ cổ – một thú chơi thanh tao, thi vị đã xuất hiện từ rất lâu đời mà nguồn gốc có lẽ bắt nguồn từ những vị vua chúa, các nhà cầm quyền và giới quý tộc. “Cổ ngoạn” xuất hiên ở Việt Nam cũng từ khá sớm, theo một số thông tin thì thú chơi này ra đời bởi các nguyên nhân chủ quan và khách quan sau:

  • Nhu cầu thưởng ngoạn của vua chúa, quan lại, nghệ nhân, trí thức nước ta.
  • Các sản phẩm thủ công cao cấp của ta được làm từ xa xưa rất đẹp, nhiều loại không thua kém hàng Trung Quốc, Nhật Bản.
  • Nhiều sản phẩm thủ công Trung Quốc sớm du nhập vào Việt Nam và tạo nên trào lưu sưu tập.
Dưới các chế độ quân chủ chuyên chế, đồ cổ và các vật quý khác như vàng, ngọc… đều nằm hầu hết trong tay vua chúa, quan lại và những gia đình quý tộc. Nhân gian nếu có đồ cổ, vật quý đều phải nộp cho triều đình, hoặc phải cúng vào chùa chiền, đền miếu làm đồ thờ cúng. Bởi thế, thú chơi “cổ ngoạn” từ xa xưa là thú chơi của vua chúa.

Trưng bày báu vật hoàng cung ở Festival Huế

Đến cuối thế kỷ XIX, khi nước ta rơi vào tay thực dân Pháp, mọi trật tự xã hội và quan niệm truyền thống bị thay đổi, uy quyền của vua chúa phong kiến mất dần, trong khi đó các thế lực địa chủ, thương nhân mạnh dần lên và những người này đã nghĩ tới việc chơi đồ cổ. Ho ra sức tìm kiếm những cổ vật quý của Việt Nam hoặc đồ gốm sứ, đồ gỗ gia dụng quý của Trung Quốc, sản xuất vào các thời Minh – Thanh để bày biện, trang trí nhà cửa. Để chứng tỏ sự cao quý của mình, họ còn học hỏi các trường phái mỹ thuật để sắp xếp bộ sưu tầm cổ vật của mình theo những nét đặc trưng rất riêng. Từ đó, thú chơi đồ cổ dần dần lan rộng, những kiến thức mới về khảo cổ và mỹ thuật được giới trí thức tân học tiếp thu rồi phổ biến trong dân chúng.

Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, do kết quả của khảo cổ học, dân tộc học và nghiên cứu văn hóa, song song với hoạt động của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Hà Nội) và Hội Đô thành hiếu cổ(Huế), các Viện Bảo tàng được thành lập ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đã mở các triển Lãm cổ vật, giới thiệu những di sản văn hóa của dân tộc cho công chúng thưởng thức. Và thú “cổ ngoạn” đã phát triển mạnh nhất từ thời kỳ đó.

Tại kinh đô Huế, dưới triều Khải Định (1916 – 1925), Viện Bảo tàng Khải Định được mở ra để trưng bày các bảo vật của Hoàng gia, vốn trước đó vẫn được cất giữ bí mật. Cần nói thêm rằng: Khải Định là ông vua rất ham thích đồ cổ. Trong các nội phủ, các dinh thự, đồ cổ không chỉ để bày biện, trang trí, mà còn được dùng trong cúng tế, yến tiệc và cả trong sinh hoạt hàng ngày. Hơn nữa, ngay tại đất cố đô, nghề buôn đồ cổ cũng được phép hoạt động.

Bộ đồ ăn tiệc của vua Khải Định – Ảnh: Kiến Thức

Cũng trong thời gian ấy, ở Bắc Kỳ, các nhà chính trị và giới thương gia cũng đua nhau chơi đồ cổ. Những viên quan khét tiếng như Khâm sứ Hoàng Cao Khải, Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, Tổng đốc Nguyễn Văn Định… trưng bày la liệt kỳ trân, bảo vật trong nhà, ngoài sân dinh thự nhằm thỏa mãn thú chơi quyền quý, cao sang này.

Ở Hà Nội, giới chơi đồ cổ là các thương gia, đến nay người Hà Nội còn nhắc tới các tên tuổi: ông Hương Ký (chủ hiệu ảnh Hương Ký), ông Nguyên Ninh (chủ doanh nghiệp bánh cốm Nguyên Ninh), ông Mỹ Thắng (phố Hàng Bạc) và hai nhân vật nữ không kém nổi tiếng là bà Bé Tý, cô Tư Hồng. Những người này đều rất sành về đồ cổ và có những bộ sưu tập quý hiếm. Đặc biệt, ở phố Hàng Trống lúc bấy giờ, có nhà buôn đồ cổ lừng tiếng Hàn Liên, cụ là người kỳ cựu trong nghề buôn bán cổ vật, mà tiếng tăm đã vang khắp nơi trên Đông Dương và tới tận Paris, thủ đô nước Pháp.

Còn trên đất Nam Bộ, thú chơi ”đồ xưa” cũng lan rộng trong nhân dân từ thành thị đến thôn quê. Ở Sài Gòn thời Pháp thuộc, nổi tiếng sành chơi cổ vật hơn cả có bà Đốc phủ Hà Minh Phải. Trên đất Vĩnh Long cũng có ông Phán Nuôi được người đương thời mệnh danh ”đệ nhất về đồ xưa”. Tại đường Catinat (nay là đường Đồng Khỏi, thành phố Hồ Chí Minh) có tiệm Pháp Vũ chuyên buôn bán đồ cổ. Tiệm này chuyên cung cấp các đồ quý lạ cho những người sành điệu. Ở Chợ Lớn bấy giờ cũng có nhà buôn Chánh Đào Ngọc chuyên cung cấp các loại bình thường cho người miệt vùng Lái Thiêu và các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Như vậy, thú chơi đồ cổ đã khởi nguồn và phát triển rộng rãi khắp mọi miền đất nước Việt Nam từ khá lâu, thú chơi ấy cũng đã ăn sâu bắt rễ trong nhân dân cho đến tận bây giờ, đem lại niềm say mê mỹ cảm rất lành mạnh. Thú chơi cổ vật này cũng góp phần không nhỏ trong việc bảo quản và giữ gìn những tinh hoa truyền thống không chỉ của dân tộc mà còn của các nền văn hóa khác trên thế giới.

Một bộ sưu tầm đồ cổ của một gia đình – Ảnh: Internet


Bạn đang đọc bài viết tại trang: Mua Gốm Sứ

Bảo tàng quốc gia Nghệ thuật châu Á Guimet với gốm Chu Đậu Việt

alguna keyword
Bảo tàng Guimet (tên tiếng Pháp là Musée National des Arts Asiatiques Guimet – Bảo tàng quốc gia Nghệ thuật châu Á Guimet) nằm ở quận 14 thành phố Paris. Là một bảo tàng về nghệ thuật châu Á với không gian trưng bày đến 5500 m². Hiện nay, Guimet là một trong những bảo tàng nghệ thuật châu Á lớn nhất nằm ngoài châu Á. Đặc biệt, tại bảo tàng này có trưng bày bộ sưu tập gốm Chu Đậu vang danh của nước ta. Cùng chiêm ngưỡng một số hiện vật gốm Chu Đậu được trưng bày tại Kinh đô ánh sáng Paris nhé.


Sau chuyến đi tới Ai Cập, Hy Lạp và vòng quanh thế giới vào năm 1876 qua Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ, Émile Guimet đã tập hợp được một bộ sưu tập lớn và mang về Lyon và thành lập bảo tàng Guimet. Năm 1889, Émile Guimet khánh thành bảo tàng ở Paris. Từ năm 1927, bảo tàng Guimet bắt đầu nhận được các hiện vật từ bảo tàng Đông Dương và nhiều nguồn đa dạng khác. Bộ sưu tập của bảo tàng Guimet đa dạng về thời kỳ và đầy đủ về nghệ thuật của châu Á với khoảng 50.000 hiện vật.


Một số hiện vật gốm Chu Đậu tại đây có chú giải xuất sứ  từ miền Bắc Việt Nam vào thời Lê (thế kỷ XV) hoặc Lê – Mạc (thế kỷ XV-XVII), tức thuộc thời kỳ phát triển cực thịnh của gốm Chu Đậu. Đáy món đồ được chú giải có lớp son nâu, tức đáy tráng son màu sô-cô-la (base chocolatée).


Khi lấy đồng hồ và bút bi để so sánh kích thước thật của món đồ, chúng tôi ngạc nhiên vì thông thường món đồ gốm cổ có kích thước lớn rất khó còn lành nguyên đến hôm nay và chúng thuộc vào hàng cực kỳ quý hiếm.


Phong cách nghệ thuật gốm Chu Đậu được tái hiện bằng chiếc tô men chàm cỡ lớn vẽ hoa cúc dây vòng quanh phía trên thành ngoài gần miệng tô xen lẫn những đóa hoa sen đang nở, còn phần diện tích chính thì vẽ thiên nga đang bay giữa các đám mây và phần gần đáy, như thường lệ vẽ cánh hoa sen cách điệu. Lòng tô được vẽ sen đang nở hoa trong hồ và đôi thiên nga rất sống động, 1 con đứng dưới hồ đang sửa lông cho mượt, 1 con đang xòe cánh bay ngó nghiêng tìm nơi đậu dưới hồ.


Cá chép và thiên nga đều có đôi thể hiện ước muốn hạnh phúc viên mãn từ ngàn xưa của người dânViệt Nam.

Hoa sen là biểu tượng của văn hóa dân gian Việt Nam và gần đây đã được bình chọn là quốc hoa, hình ảnh con cò không thể thiếu được đối với người nông dân nước ta. Tất cả hình họa trang trí trên gốm Chu Đậu như lời giới thiệu đến thế giới về quan niệm thẩm mỹ, sống cùng thiên nhiên rất hiện thực của người nông dân Việt Nam xưa.


Bạn đang đọc bài viết tại trang: Mua Gốm Sứ

Cùng tìm hiểu làng gốm Đông Triều – Quảng Ninh

alguna keyword
So với Bát Tràng, Phù Lãng, Kim Lan,… làng gốm Đông Triều (Quảng Ninh) còn khá non trẻ về tuổi đời. Vào năm 1955, ông Hoàng Bá Huy là người tiên phong trong việc mở xưởng sản xuất gốm với quy mô gia đình. Trải qua thời gian, nghề này được nhân rộng và hiện nay có hơn 50 lò gốm chủ yếu tại khu vực Cầu Đất và Vĩnh Hồng với khoảng 1500 lao động địa phương. Từ khi nghề này phát triển, Đông Triều mới bắt đầu được gọi là “làng gốm”.


Đặc điểm của gốm sứ Đông Triều là các sản phẩm ở đây chủ yếu sử dụng hệ lò bầu và nhiệt độ nung đạt tới 1300 độ C. Để tạo ra những sản phẩm gốm sứ nặng lửa như vậy, những người thợ gốm Đông Triều đã dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu cách pha chế nguyên liệu cũng như cách thiết kế lò đốt. Nguồn nguyên liệu chính của gốm sứ Đông Triều là đất cao lanh chịu lửa khai thác tại xã Tử Lạng, huyện Kinh Môn, Hải Dương và nguồn đất sét trắng dẻo Trúc Thôn. Ngoài ra, việc xử lý đất cũng được những người thợ Đông Triều hết sức chú trọng, vì vậy hầu như không có các tạp chất lẫn – đặc biệt là không còn lượng ô xít sắt Fe2O3, vì vậy đảm bảo độ trắng đều của sản phẩm.


Do được làm từ những nguyên liệu được tuyển chọn, đồng thời sử dụng phương pháp xử lý đất kỹ càng, nung với nhiệt độ cao nên các sản phẩm gốm sứ Đông Triều có độ bền rất cao và nước men cũng rất trong. Một nét đặc trưng nữa của gốm Đông Triều là việc tạo dáng sản phẩm được làm trên bàn xoay điện giúp họ thao tác nhanh hơn.


Gốm sứ Đông Triều được yêu thích bởi mỗi sản phẩm đều có hoa văn, họa tiết phong phú, đa dạng thể hiện dưới lớp men, không những phản ánh sâu đậm cuộc sống, con người và thiên nhiên Việt Nam như tứ quý, sông nước hữu tình… mà còn đảm bảo độ bền và an toàn cho sản phẩm.


Những sản phẩm gốm sứ của Đông Triều đã được xuất khẩu sang rất nhiều quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Đài Loan, Canada… và được khách hàng nước ngoài đánh giá cao về cả chất lượng lẫn mẫu mã.

Đánh giá được tầm qua trọng và tương lai phát triển của nghề gốm sứ ở Đông Triều, một số doanh nghiệp sản xuất gốm sứ trong đã đầu tư xây dựng nhà xưởng mới ở đây nhằm tận dụng ưu thế thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn nguyên liệu, nguồn lao động lành nghề và vị trí giao thông thuận tiện cho việc xuất khẩu. Điều này khiến làng nghề Đông Triều ngày một phát triển. Hiện nay, đây cũng là một trong những điểm dừng chân yêu thích của du khách trong và ngoài nước.


Bạn đang đọc bài viết tại trang: Mua Gốm Sứ

Phương pháp tạo dáng gốm cổ truyền của người Việt xưa

alguna keyword
Phương pháp tạo dáng gốm cổ truyền của người Việt xưa là làm bằng tay trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm thường sử dụng lối “vuốt tay, be chạch” . Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Hãy cùng DIVA Gốm Sứ tìm hiểu về quá trình tạo cốt gốm đầy công phu và đòi hỏi sự tỉ mỉ cực cao này nhé.


Đất phải được vò thật nhuyễn trước khi đưa vào bàn xoay, cuốn thành thoi rồi ném để thu ngắn lại. Sau bước này, người ta đặt vào giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo đến khi đất nhuyễn dẻo mới “đánh cử” đất và “ra hương” chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải. Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết, người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm “xén lợi” và “bắt lợi” xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào “bửng”.

Việc sử dụng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam nhưng lại rất xa lạ với thợ gốm phương Tây. Tuy nhiên, trải qua thời gian, kỹ thuật này đã dần mai một và  hiện nay không còn mấy người thợ gốm còn có thể làm được công việc này nữa.


Người thợ “đắp nặn” gốm là phải là người có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao, người thợ này có thể đắp nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh hoặc từng bộ phận riêng lẻ của một sản phẩm và sau đó tiến hành chắp ghép lại. Việc đắp nặn này cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ đến từng chi tiết và tốn thời gian, cho nên do nhu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mĩ nghệ, hiện nay, nhiều lò gốm đã tiến hàng đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho việc sản xuất hàng loạt.

Việc tạo hình sản phẩm gốm theo khuôn in bằng thạch cao hay gỗ được tiến hành như sau: đặt khuôn giữa bàn xoay, ghim chặt lại, láng lòng khuôn rồi ném mạnh đất in sản phẩm giữa lòng khuôn cho bám chắc chân, vét đất lên lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết đề tạo sản phẩm. Tuy nhiên cách này chỉ có thể tạo ra các sản phẩm có dạng hình tròn hở miệng, vì bàn quay li tâm chỉ cho phép thợ tạo ra các sản phẩm có dạng hình tròn, lưỡi cán đất sẽ không cho phép tạo các đồ vật miệng kín.



Ngày nay, thợ gốm thường sử dụng kỹ thuật đổ rót “đúc” hiện vật. Muốn làm gốm theo kỹ thuật này trước hết phải tạo khuôn bằng thạch cao, có nhiều loại khuôn từ đơn giản đến phức tạp. Loại đơn giản là khuôn hai mang, loại phức tạp thì thường có nhiều mang. Với cách tạo dáng này, các lò gốm có thể tạo ra hàng loạt các sản phẩm gốm giống nhau trong thời gian ngắn.

Ngoài ra, người ta còn dùng phương pháp đổ rót: đổ “hồ thừa” hay “hồ đầy” để tạo dáng sản phẩm. Hồ lỏng sau quá trình nghiền đất sẽ được trộn với xút (chủ yếu là NaHSiO3) nhằm làm giảm quá trình lắng của các hạt đất trong hồ, sau một thời gian nhất định hồ thừa sẽ được đổ ra ngoài, người thợ sẽ để thêm một thời gian nữa trước khi lấy sản phẩm ra khỏi khuôn (để sản phẩm được khuôn hút bớt nước, khi đó sản phẩm sẽ cứng hơn) nếu lấy ra sớm sẽ làm sản phẩm bị méo, hoặc sau khi lấy hồ ra người thợ đổ rót sẽ phải cho vào đó bóng đèn hoặc than tổ ong đang hồng để cho sản phẩm nhanh cứng. Đây là phương pháp sản xuất hàng loạt và phổ biến hiện nay.

Bạn đang đọc bài viết tại trang: Mua Gốm Sứ

Chiêm ngưỡng bộ ấm trà cổ độc nhất vô nhị

alguna keyword
Ông Vũ Quý Nhân là một trong những người có bộ sưu tập cổ vật nổi tiếng tại Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là hàng trăm chiếc ấm trà cổ với nhiều kiểu dáng, hoa văn “độc nhất vô nhị”. Hãy cùng chúng tôi chiêm ngưỡng một số ấm trà ấn tượng nhất trong bộ sưu tập của ông nhé.

Ông Vũ Quý Nhân bên bộ sưu tập ấm trà cổ

Ông Nhân sinh ra và lớn lên tại huyện Định Hóa (Thái Nguyên), ông cho biết thú sưu tập của ông bắt nguồn từ việc “nghiện trà” của mình và bắt đầu cách đây gần 20 năm. Đến thời điểm hiện tại, bộ sưu tập của ông đã có hơn 300 ấm trà cổ với niên đại, kiểu dáng, kích thước khác nhau và được chế tác từ nhiều vùng gốm khác nhau.

Những chiếc ấm trà cổ đa dạng về cả chủng loại, thiết kế

Trong bộ sưu tập của ông, chiếc ấm cổ nhất là ấm gà thần gốm trắng có hoa văn được chạm chìm, chiếc ấm này được làm vào khoảng cuối thời Lý và có niên đại khoảng 800 năm tuổi. Một trong những chiếc ấm nổi bật nữa đó là chiếc ấm cù lao làm bằng đồng từng ở phủ chúa Trịnh với thiết kế tinh tế: bên trên là ấm trà, bên dưới là hỏa lò để giữ cho trà luôn nóng, sự kết hợp độc đáo ấy như một hòn cù lao giữa sông nước.
Ấm gà thần gốm trắng có niên đại khoảng 800 năm tuổi
Trong hơn 300 ấm trà cổ của mình, ông Nhân cho biết ông quý nhất chiếc ấm rồng phượng cổ cao có hoa văn tinh xảo, họa tiết cầu kỳ, kiểu dáng sang trọng thuộc dòng gốm Bát Tràng. Khi ông tìm được, chiếc ấm đã mất nắp và bị để lẫn cùng các vại muối dưa, muối tương cà khác trong góc bếp của một gia đình nông dân. Đứng trước chiếc ấm, ông cảm thấy như mình đang đứng trước một người phụ nữ đoan trang, mực thước, rất đẹp, rất kiêu sa.

Chiếc ấm rồng phượng có hoa văn tinh xảo, họa tiết cầu kỳ, kiểu dáng sang trọng
Lại có một chiếc ấm bằng gốm trắng ấn tượng với thiết kế hình con chích chòe báo tin vui với vòi ấm là miệng chim đang hé mở, còn được gọi với cái tên dân dã là “ấm chia vui”.

Chiếc “ấm chia vui” với hình ảnh con chích chòe

Bên cạnh đó cũng có thể kể đến những chiếc ấm với những chi tiết cực kỳ tinh xảo như chiếc ấm hoa cúc hay chiếc ấm hình ông tượng với niên đại hàng trăm năm.
Ấm hoa cúc với thiết kế tinh xảo đến từng chi tiết
Ấm trà hình ông tượng

Ông Vũ Quý Nhân cho biết qua những ấm trà cổ, ông muốn giới trẻ ngày nay biết thêm về văn hóa thưởng trà của người Việt. Ông cũng nói thêm, đêm giao thừa nào trên trang thờ nhà ông cũng luôn có một ấm trà đặc biệt pha từ loại trà hảo hạng để cúng tổ tiên. Chờ qua thời khắc giao thừa, cả nhà ông cùng nhau đem ấm trà xuống vừa thưởng thức những ngụm trà đặc, vừa ngẫm lại những vui buồn trong năm cũ để cùng nhau phấn đấu cho năm tới hạnh phúc, thịnh vượng hơn.


Ấm trà long – ly – quy – phượng cực hiếm